Từ góc độ pháp lý, theo Luật sư Thái Nguyên tiến trình phát triển một phần mềm có thể được tạm phân thành 5 công đoạn chính sau đây:

1. Khởi phát ý tưởng về phần mềm: từ việc phán đoán hoặc nắm bắt nhu cầu thị trường, doanh nghiệp hoặc các chuyên gia công nghệ thông tin có thể nảy sinh ý định phát triển một phần mềm đảm nhiệm các chức năng hoặc giải quyết các nhiệm vụ nào đó. Ý tưởng này và các ý tưởng phát triển tiếp theo về nguyên tắc cần được bảo vệ như một bí mật kinh doanh (trade secret), chỉ tiết lộ ra trong một phạm vi quan hệ hạn chế, cho đến khi phần mềm đã được hoàn thiện đến một mức độ nhất định đủ để có thể tung vào các giao dịch thương mại.

2. Thiết kế cấu trúc hệ thống: là công đoạn xác định các mô-đun cần thiết (mỗi mô-đun thực hiện một nhóm nhiệm vụ, chức năng được đề ra trong ý tưởng về phần mềm) và mối quan hệ giữa các mô-đun đó, bao gồm việc lồng ghép các mô-đun, thiết kế dòng điều khiển chảy trong hệ thống (trình tự tham gia giải quyết công việc của các mô-đun) và xác định dòng dữ liệu tương ứng (dòng thông tin trao đổi giữa các mô-đun). Bản thân việc thiết kế một nhóm mô-đun có quan hệ hữu cơ với nhau để đảm nhiệm được một (số) chức năng cụ thể có thể coi là  tương đương với một giải pháp kỹ thuật dạng thiết kế cơ cấu, trong khi việc thiết kế các dòng điều khiển và dòng dữ liệu để xử lý được một nhiệm vụ cụ thể lại có thể tương đương với một giải pháp kỹ thuật dạng thiết kế quy trình. Nếu các giải pháp đó là mới, chúng có thể được đăng ký để được cấp bằng độc quyền sáng chế (patent) mà trong trường hợp này được gọi là sáng chế phần mềm (software patent). Ngoài ra, hàng loạt ý tưởng, thông tin nảy sinh trong giai đoạn này cũng có thể là các thông tin không nên tiết lộ (confidential information) hoặc các bí mật kinh doanh cần được bảo vệ để duy trì lợi thế cạnh tranh của người đang nắm giữ. Riêng các thông tin đã được định hình dưới dạng các tài liệu, các lưu đồ, các tập tin …, nếu do chính các chuyên gia phân tích hệ thống, các lập trình viên … thiết lập, thì còn là các tác phẩm có thể đựơc bảo hộ quyền tác giả (copyright).

3. Thiết kế kiểu dữ liệu trừu tượng: mỗi nhiệm vụ/chức năng mà một mô-đun phải giải quyết sẽ được phân chi tiết hơn thành các phép toán hoặc tác vụ cần thực hiện, cùng kiểu dữ liệu tương ứng mà mỗi phép toán/tác vụ sẽ vận dụng. Mỗi phép toán/tác vụ có thể là một dấu hiệu chi tiết của các sáng chế được hình thành trong bước thiết kế cấu trúc hệ thống, và một tập các phép toán/tác vụ cũng có thể cấu thành một sáng chế dạng quy trình. Ngoài ra, tương tự như ở công đoạn thiết kế cấu trúc hệ thống, nhiều tác phẩm có bản quyền và nhiều thông tin bí mật cũng có thể hình thành trong công đoạn này, đòi hỏi doanh nghiệp hoặc tập thể thiết kế phải đề ra và chấp hành một quy chế bảo mật, không chỉ có năng lực ngăn cấm các tiết lộ không được phép vào thời điểm thiết kế, mà cả năng lực ràng buộc nghĩa vụ không tiết lộ hoặc không sử dụng để cạnh tranh ngược lại trong một mức độ hợp lý, đối với các thành viên có thể sẽ chia tay với doanh nghiệp hoặc tập thể thiết kế về sau này.

4. Giải thuật và cấu trúc dữ liệu: giải thuật là một chuỗi các bước chi tiết phải thực hiện để hoàn thành một phép toán/tác vụ và mỗi phép toán/tác vụ có thể được giải quyết bằng một số giải thuật khác nhau. Tương ứng, cấu trúc dữ liệu cũng là bước thiết kế cụ thể hơn cho mỗi kiểu dữ liệu đã được xác định ở công đoạn thiết kế kiểu dữ liệu trừu tượng qua 6 thông số: kiểu dữ liệu cơ sở, giá trị, biến, mảng, biểu ghi và trỏ. Giải thuật có thể là các dấu hiệu chi tiết của các sáng chế đã phát triển trước đó và một giải thuật phức tạp, đặc biệt là trong các phần mềm kỹ thuật, cũng có thể tạo thành một sáng chế. Tương tự, hàng loạt các thông tin hoặc tài liệu mô tả chi tiết trong công đoạn này cũng có thể là các bí mật kinh doanh hoặc các tác phẩm có bản quyền.

5. Chương trình máy tính: dựa trên các giải thuật chi tiết và cấu trúc dữ liệu tương ứng, lậo trình viên sẽ viết mã nguồn (chuỗi câu lệnh được viết bằng ngôn ngữ lập trình) và sau đó biên dịch sang mã máy (được dịch từ mã nguồn ra chuỗi các ký tự 0 và 1 tương ứng để máy tính có thể hiểu và chấp hành) tương ứng với phần cứng mà phần mềm sẽ được cài đặt. Chương trình máy tính hoặc từng bộ phận của chương trình có thể được bảo hộ như các tác phẩm có bản quyền

Để có thể xúc tiến thương mại phần mềm, hàng loạt các tài liệu khác cần được thiết kế, biên soạn như: hướng dẫn cài đặt, sử dụng, sửa lỗi, nâng cấp, tương thích hóa.... và do đó, một phần mềm hoàn chỉnh có thể xem như được hợp thành bởi 4 thành tố: tài liệu thiết kế, chương trình máy tính, tài liệu hỗ trợ và sưu tập dữ liệu số đi kèm; trong đó, sưu tập dữ liệu số bao gồm các cơ sở dữ liệu và các tác phẩm số hoặc số hóa. Như vậy, các đối tượng sở hữu trí tuệ liên quan chủ yếu đến một phần mềm là: sáng chế, bí mật kinh doanh và tác phẩm có bản quyền.

Nếu các đối tượng sở hữu trí tuệ này được doanh nghiệp hoặc nhà thiết kế chú ý xúc tiến các thủ tục hoặc hành vi xác lập quyền đúng theo luật định, chúng sẽ trở thành tập quyền sở hữu trí tuệ (Intellectual property right portfolio) của phần mềm tương ứng. Ngoài ra, khi được đưa vào lưu thông như một thực thể hỗn hợp giữa hàng hóa (vật mang phần mềm) + dịch vụ (quyền sử dụng các đối tượng sở hữu trí tuệ theo quy định của nhà thiết kế), mỗi phần mềm đều được đặt một tên riêng có thể được bảo hộ như một nhãn hiệu.

luat-su-thai-nguyen-tu-van-quyen-so-huu-tri-tue-doi-voi-phan-mem

Luật sư Thái Nguyên đưa ra khái quát về tập quyền sở hữu trí tuệ của một phần mềm:

Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào. Tác phẩm phát sinh là tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm cải biên, chuyển thể... Tổ chức, cá nhân có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả gồm người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và chủ sở hữu quyền tác giả. Quyền tác giả đối với tác phẩm bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản. Quyền nhân thân (liên quan chủ yếu đến các chuyên viên phân tích hệ thống và lập trình viên của phần mềm) bao gồm các quyền: đặt tên cho tác phẩm, đứng tên trên tác phẩm, được nêu tên khi tác phẩm được công bố, sử dụng, công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm... Quyền tài sản (của chủ sở hữu phần mềm, có thể là chính (nhóm) tác giả hoặc doanh nghiệp hay người đầu tư để phát triển phần mềm) gồm các quyền: làm tác phẩm phái sinh; sao chép; phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao; truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác; cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.

Theo Văn phòng luật sư Thái Nguyên, sáng chế (invention) là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên. Nếu có tính mới và có khả năng áp dụng công nghiệp, có thể đăng ký để được cấp "Bằng độc quyền giải pháp hữu ích" với thời hạn độc quyền là 10 năm; nếu thỏa mãn thêm điều kiện "có trình độ sáng tạo", có thể đăng ký để được cấp "Bằng độc quyền sáng chế" với thời hạn độc quyền là 20 năm. Nhiều tập đoàn công nghiệp quốc tế đã xúc tiến việc đăng ký các sáng chế liên quan đến phần mềm của họ tại Việt Nam (có thể tra cứu tại www.noip.gov.vn). Trong tiến trình hội nhập, có thể nói các sáng chế liên quan mới thực sự là hệ xương sống của ngành công nghiệp phần mềm.

Bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh. Bí mật kinh doanh sẽ được bảo hộ nếu đáp ứng đồng thời 3 điều kiện: không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được,  khi được sử dụng trong kinh doanh sẽ tạo cho người nắm giữ bí mật kinh doanh lợi thế so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng bí mật kinh doanh đó và được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để bí mật kinh doanh đó không bị bộc lộ và không dễ dàng tiếp cận được. Nếu phần mềm có được giá trị thương mại nhất định, các bí mật kinh doanh sẽ bộc lộ vai trò đặc biệt quan trọng trong quan hệ giao kết giữa người đầu tư phát triển phần mềm với tập thể tham gia thiết kế.

Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau. Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây: là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc; và, có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác. Thời hạn bảo hộ độc quyền nhãn hiệu là 10 năm và có thể gia hạn theo nhiều chu kỳ 10 năm tiếp theo.

***
Mọi vấn đề vướng mắc cần được tư vấn và hỗ trợ, Quý Khách Hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn và hướng dẫn miễn phí!

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ THÁI NGUYÊN

Cơ sở 1: Số 18 - Đường Nha Trang - Phường Trưng Vương - TP.Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

Hotline: 0963.929.850    

Hân hạnh được phục vụ Quý khách.


Tin tức liên quan

15-05-2018
Lượt xem: 76

Hiện nay, độ độc đáo, mới lạ nhiều khi quyết định tính sống còn của một sản phẩm khi mới tung ra thị trường. Vì vậy, rất nhiều cá nhân và tổ chức quan tâm đến vấn đề bảo hộ kiểu dáng công nghiệp của sản phẩm. Luật sư Thái Nguyên  xin trân trọng gửi tới quý độc giả Thủ tục bảo hộ kiểu dáng công nghiệp cho sản phẩm. Hi vọng bài viết sẽ đem lại nhiều kiến thức bổ ích và có giá trị

10-05-2018
Lượt xem: 78

Giao diện website là một sản phẩm trí tuệ được công ty thiết kế website sáng tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Hầu hết các công ty thiết kế website đều chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ giao diện website cho khách hàng sau khi kết thúc hợp đồng. Tuy nhiên, để quyền sở hữu được công nhận, khách hàng cần phải tiến hành đăng ký bản quyền website với Cục sở hữu trí tuệ để được cấp giấy chứng nhận và từ đó hợp thức hóa quyền sở hữu của mình đối với giao diện website.

07-06-2018
Lượt xem: 64

Theo Văn phòng luật sư Thái Nguyên, sáng chế (invention) là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên. Nếu có tính mới và có khả năng áp dụng công nghiệp, có thể đăng ký để được cấp "Bằng độc quyền giải pháp hữu ích" với thời hạn độc quyền là 10 năm; nếu thỏa mãn thêm điều kiện "có trình độ sáng tạo", có thể đăng ký để được cấp "Bằng độc quyền sáng chế" với thời hạn độc quyền là 20 năm. Nhiều tập đoàn công nghiệp quốc tế đã xúc tiến việc đăng ký các sáng chế liên quan đến phần mềm của họ tại Việt Nam (có thể tra cứu tại www.noip.gov.vn). Trong tiến trình hội nhập, có thể nói các sáng chế liên quan mới thực sự là hệ xương sống của ngành công nghiệp phần mềm.

09-12-2017
Lượt xem: 174

Công ty tư vấn Luật An Bình cung cấp dịch vụ tư vấn và thực hiện đăng ký sở hữu trí tuệ nhanh và tốt nhất cho quý khách hàng tại Thái Nguyên. LH: 0963.929.850

19-12-2017
Lượt xem: 143

Để đảm bao mỗi cá nhân, tổ chức có thể đảm bảo được quyền lợi hợp pháp trong các sáng tạo của mình, Công ty tư vấn Luật An Bình cung cấp những dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật sở hữu trí tuệ sau: